Những bài văn mẫu kể về chuyến đi thăm gia đình thương binh, liệt sĩ hay nhất được biên soạn cho các em tham khảo

Tuyển tập văn mẫu Kể về chuyến đi thăm gia đình thương binh, liệt sĩ

Mẫu số 1: Kể về chuyến đi thăm gia đình thương binh, liệt sĩ ở địa phương

Sáng chủ nhật tuần trước, lớp em tổ chức đi thăm một số gia đình thương binh, liệt sĩ ở địa phương. Tổ em được phân công thăm bà Phan, mẹ liệt sĩ và chú Hiển, thương binh nặng, cụt cả hai chân trong chiến dịch giải phóng Sài Gòn năm 1975.

Nhà bà Phan nằm sâu trong một con hẻm ở đường Bàn Cờ. Bà là mẹ của liệt sĩ Trương Tấn Quang, hi sinh anh dũng trong chiến dịch biên giới Tây Nam. Bản thân bà trước đây cũng là một cơ sở hoạt động cách mạng nội thành và đã từng bị địch bắt giam, tra tấn dã man.

Tuổi già sức yếu, bà Phan sống dựa vào tiền trợ cấp gia đình liệt sĩ và sự đùm bọc của nhân dân trong phường. Cách đây hơn một tháng, phòng Giáo dục quận 3 đã tặng bà ngôi nhà tình nghĩa, thay thế cho căn nhà dột nát chật chội.

Thấy chúng em tới, bà mừng lắm: Các cháu đến thăm bà đấy ư? Khuôn mặt nhăn nheo vụt tươi lên bởi nụ cười đôn hậu. Bạn Thu Hương thay mặt cho tổ hỏi thăm sức khỏe của bà. Bạn Tiến Thành cắm một bó hoa tươi vào bình rồi kính cẩn đặt lên bàn thờ. Mùi nhang trầm tỏa ấm cả gian nhà. Từ trong ảnh, đôi mắt trong sáng của chú Quang nhìn chúng em trìu mến. Chúng em biếu bà mấy ký đường, vài hộp sữa, chục trứng gà, chục cam và ít thuốc bổ… Bà xúc động cảm ơn chúng em. Em thầm nghĩ là không gì có thể đền đáp xứng đáng công lao của những người mẹ đã cống hiến, hi sinh đứa con ruột thịt của mình cho Tổ quốc.

Rồi chúng em quây quần bên cánh võng, nghe bà kể về những kỉ niệm trong đời hoạt động cách mạng của mình; kể về chú Quang, người con trai yêu quý. Cảnh tượng bà cháu sum vầy thật vui vẻ và ấm cúng.

Từ giã bà Phan, chúng em sang thăm chú Hiển. Chú ngồi trên xe lăn, tươi cười chào đón chúng em. Tuy là một thương binh nặng nhưng chú Hiển vẫn rất lạc quan. Chú là một tấm gương sáng về nghị lực và ý chí khắc phục khó khăn.

Theo lời Bác dạy: Thương binh tàn nhưng không phế, chú Hiển vẫn cần cù làm việc bằng đôi tay tài hoa của mình. Chú hướng dẫn cho vợ con đan lát những mặt hàng thủ công mĩ nghệ bằng mây, tre, lá. Bàn tay cầm súng năm xưa giờ đây đang thoăn thoắt luồn những sợi mây óng chuốt, tạo nên những chiếc khay, chiếc giỏ xinh xắn, làm đẹp cho mọi nhà.

Chúng em nhận giúp đỡ gia đình chú đã hơn nửa năm nay nên đến nhà chú thấy việc là làm. Nhóm nữ giúp cô Hồng dọn dẹp nhà cửa cho ngăn nắp. Bạn Thủy, bạn Dung hướng dẫn hai em con chú Hiển giải những bài toán khó. Chúng em quyên góp tiền mua tặng sách vở và một số đồ dùng học tập cho hai em. Chú Hiển nói lên ước nguyện của mình là cố gắng nuôi các con ăn học đến nơi đến chốn. Với tình hình sức khỏe và hoàn cảnh gia đình của chú, điều ấy quả thật chẳng dễ chút nào. Nhưng chúng em tin rằng với tinh thần phấn đấu và quyết tâm cao, ước vọng của chú sẽ thành hiện thực.

Buổi đi thăm các gia đình thương binh, liệt sĩ kết thúc tốt đẹp. Trên đường về, chúng em bàn bạc để tìm cách giúp đỡ các gia đình ấy sao cho có hiệu quả hơn. Đạo lí Uống nước nhớ nguồn của dân tộc nhắc nhở chúng em sống sao cho có nghĩa có tình đối với những người có công với đất nước. Em càng hiểu sâu sắc hơn về lòng biết ơn – nền tảng đạo đức, đạo lí truyền thống của dân tộc ta.

lá

Mẫu số 2: Kể về chuyến đi thăm gia đình thương binh, liệt sĩ – liệt sĩ Nguyễn Thanh Sơn

Uống nước nhớ nguồn là đạo lí truyền thông tốt đẹp của dân tộc. Những hoạt động đền ơn đáp nghĩa, giúp đỡ các gia đình thương binh liệt sĩ, những người có công với Cách mạng là biểu hiện của đạo lí tốt đẹp đó. Nhân ngày 27 tháng 7 năm nay, cô giáo chủ nhiệm lớp đã đưa chúng tôi tới thăm gia đình liệt sĩ neo đơn ở một làng nhỏ yên tĩnh, ven thành phố. Đó là gia đình liệt sĩ Nguyễn Thanh Sơn.

Ngay từ sớm, chúng tôi đã tụ họp đông đủ trước sân trường. Cô giáo chủ nhiệm làm trưởng đoàn. Cả lớp đi xe đạp. Đông là thế nhưng tất cả đều trật tự và nghiêm túc. Dường như ai cũng hiểu được ý nghĩa thiêng liêng của hoạt động này.

Ngôi nhà nhỏ bé của liệt sĩ khuất sau lũy tre xanh mát. Chúng tôi đẩy nhẹ chiếc cổng tre khép hờ, bước vào chiếc sân nhỏ lát gạch Bát Tràng. Đây đó xuất hiện một vào đám rêu xanh ở góc sân. Khu vườn thoảng hương hoa dại. Ở góc vườn, cây vối khẳng khiu đối diện với cây khế quả sai trĩu cành. Những chiếc lá vàng rụng rải rác trên sân. Vài con chim sâu kêu lích tích. Cảm giác quạnh hiu buồn vắng xâm chiếm lòng tôi. Một bà cụ nhỏ bé, mái tóc trắng như cước, chống chiếc gậy trúc bước ra sân. Chúng tôi cất tiếng chào, bà cụ cười hiền hậu mời cô giáo và chúng tôi vào nhà. Đồ đạc trong nhà có phần xềnh xoàng, đơn giản. Ở gian giữa ngôi nhà kê một chiếc bàn thờ, mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm ngát. Trên bàn thờ có hai bức chân dung: hai người lính trẻ có gương mặt giống nhau như tạc. Họ tươi cười nhìn chúng tôi qua làn khói hương nghi ngút. Chiếc bàn gỗ mộc đơn sơ, bộ ấm chén sạch sẽ. Bà cụ mời cô giáo và chúng tôi uống nước. Bà bảo: Nước vối đấy các cháu ạ! uống nước vối rất tốt cho sức khỏe! Tôi đỡ lấy chén nước bà đưa cho, uống một ngụm và chợt nhận ra mình chưa bao giờ được thưởng thức thứ nước uống nào thơm và ngon đến thế!

Chúng tôi lắng nghe câu chuyện của bà. Bà kể người trong hai bức ảnh là chồng và con trai của bà, liệt sĩ Nguyễn Thanh Sơn. Chồng bà hi sinh ở chiến trường Điện Biên Phủ lịch sử. Bà một mình nuôi anh Sơn khôn lớn. Năm 1970, anh xung phong đi bộ đội, mặc dù đủ tiêu chuẩn để đi học nước ngoài. Trước ngày lên đường, anh đã trồng cây vối và cây khế ngọt ở góc vườn. Anh bảo uống nước vối tốt cho sức khỏe của mẹ. Còn cây khế anh trồng là để dành cho lũ trẻ con. Nhà neo người, có trẻ đến chơi cho vui cửa, vui nhà. Anh hi sinh ở cửa ngõ Sài Gòn năm 1975. Bà nghẹn ngào: Cây thì còn, nhưng người thì mất. Những lúc nhìn cây, bà lại nhớ đên anh. Ngày ngày đám trẻ con lân cận vẫn sang chơi, hái nụ vối để bà pha nước uống và ăn khê ngọt trong vườn. Bác hàng xóm đã làm cho chúng một dụng cụ hái khế rất tiện lợi, không phải trèo cây mà vẫn hái được quả. Bọn chúng thích lắm, còn bà thì yên tâm, không sợ lũ trẻ bị ngã vì leo trèo. Chúng tôi theo bà ra vườn. Nhìn cây khế đong đưa quả nặng, nâng niu đón nhận những trái khế bà cho, tôi bỗng cảm nhận thấm thìa tấm lòng hiếu thảo của người con trai dành cho mẹ. Cô giáo tôi bảo: Vị nước vối thơm và những trái khế ngọt của người con trai đã giúp bà vượt qua nỗi buồn đau, sự cô đơn để sống và hoài niệm.

Mấy bạn gái chăm chỉ đã mau mắn quét tước thu dọn sân vườn giúp bà. Lũ con trai lộc ngộc như bọn tôi, khỏe hơn, thì múc đầy bể nước, xén tỉa hàng rào râm bụt ở lối ngõ cho gọn ghẽ. Đúng lúc đó, một đám trẻ con hơn mười đứa cũng kéo sang. Chúng mang biếu bà một rá khoai luộc để bà tiếp khách. Mấy đứa tranh nhau kể cho bà nghe mọi chuyện trong xóm, ngoài làng và những trò tinh nghịch của chúng ở trường. Bà lắng nghe câu chuyện của đám trẻ, cười móm mém, hiền hậu. Bà bảo: Đám trẻ con hàng xóm ấy chính là con cháu của bà!

Chúng tôi tặng quà cho bà rồi xin phép ra về. Trên đường về, cả lớp tôi đều đạp xe lặng lẽ. Ai nấy đều theo đuổi một ý nghĩ riêng từ chuyên viếng thăm này. Còn tôi? Lòng nao nao với bao cảm xúc khó tả, tôi mơ hồ nhận ra ý nghĩa lớn lao, vĩ đại của sự hi sinh thầm lặng ở những người vợ, người mẹ Việt Nam. Một chút ngậm ngùi thương cảm đan xen niềm cảm phục vô bờ. Cảm phục, biết ơn người chiến sĩ đã hi sinh máu xương của mình cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Cảm thương cho những người vợ, người mẹ liệt sĩ sống trong cô đơn, buồn nhớ suốt phần đời còn lại. Được hưởng hòa bình từ bao mất mát hi sinh từ các thế hệ cha anh, mỗi chúng ta hôm nay phải có những hành động thiết thực, hiệu quả trong việc đền ơn đáp nghĩa gia đình liệt sĩ để các anh an lòng từ thế giới bên kia.

Lá

Mẫu số 3: kể về chuyến đi thăm gia đình thương binh, liệt sĩ – liệt sĩ Nguyễn Viết Việt – Nghệ An

Sáng ngày 27/ 7/ 2014, em đã buổi đi thăm và tặng quà tri ân gia đình liệt sĩ Nguyễn Viết Việt, tại xã Minh Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, đã hi sinh vào ngày 29/ 11/1976.

Thân sinh của liệt sĩ Nguyễn Viết Việt là bà Hạnh. Con đường đất sét khô cằn, phía hai bên là những vách núi với những lùm cây rậm rạp xanh tốt dẫn lớp em đi vào nhà bà Hạnh là căn nhà cấp bốn đã cũ. Căn nhà cấp bốn không có nhiều đồ dùng hay tài sản đáng quý, có một bộ bàn ghế đã cũ, bàn thờ được treo ngay ngắn di ảnh của người con trai và chồng của bà Hạnh. Trước đây, bà cũng đã từng tham gia chiến đấu cách mạng và chịu nhiều đòn dã man của bọn giặc. Phá đá mở đường, những chuyến xe chở lương thực, súng đạn, các đồ dùng… để tiếp tế cho tiền phương. Một lòng yêu nước, trả thù giặc, một ý chí quyết tâm vững như sắt đá được thể hiện trong từng câu từng chữ, từng lời nói dứt khoát mà kiên quyết của bà khi kể lại những trận chiến, những cuộc ra quân thập tử nhất sinh .

Cái nắng gay gắt của mảnh đất miền Trung cùng lòng nhiệt tình của con người xứ Nghệ, bà Hạnh đón tiếp chúng em rất niềm nở và giàu lòng hiếu khách với bát nước chè xanh đậm mùi xứ Nghệ. Sau khi được nghe bà kể về cuộc đời ngắn ngủi của con trai mình – liệt sĩ Nguyễn Viết Việt không chỉ khiến bà rơi nước mắt nhớ con mà còn khiến cho thầy cô và chúng em xúc động trước sự hi sinh của chàng trai trẻ.

Qua đó, càng thúc giục chúng em học tập tốt, rèn luyện tốt để tiếp bước các anh đồng thời là sự biết ơn, “uống nước nhớ nguồn”. Hiện tại, bà đang được trợ cấp bởi chính sách cho các gia đình liệt sĩ và các dịp lễ tết. Chính sách của Đảng và nhà nước quan tâm, chú trọng đến các gia đình có công với cách mạng. Tuy cuộc sống có vất vả nhưng bà luôn động viên con cháu hãy sống thật tốt và biết ơn những người đi trước.

Sau những lời hỏi thăm và nụ cười thân tình, thầy cô và một số bạn cán bộ lớp biếu bà món quà nhỏ và chúc bà luôn luôn mạnh khỏe. Bà xúc động cảm ơn và chia tay lớp em. Em cùng các bạn giúp bà Hạnh dọn dẹp nhà cửa, giúp bà làm vườn. Nhìn niềm hạnh phúc nở trên môi Bà làm chúng em cảm thấy ấm lòng, niềm vui như nhân lên gấp đôi.

Những việc làm nhỏ không những đem đến những niềm vui cho những người khác mà còn đem lại niềm vui cho chính bản thân mình. Đó là việc làm ý nghĩa và thiết thực. Mong rằng không chỉ em và các thành viên trong lớp mà sẽ còn nhiều hơn nhiều hơn nữa những tấm lòng. Buổi đi thăm đã để lại cho em kỷ niệm sâu sắc, điều đó luôn nhắc nhở em sống theo đạo lý “uống nước nhớ nguồn” và học tập thật tốt.

Nhờ có dịp được đi thăm mộ các anh hùng liệt sĩ mà em hiểu được giá trị cội nguồn của dân tộc, trong chuyến đi em đã được các bác, các chú có dạy em rất nhiều điều về những chiến thắng xưa, sự hy sinh của những người đi trước đã cho chúng em rất nhiều bài học về dân tộc. Hình ảnh đó đã để cho chúng em nhiều điều có ý nghĩa. Hình ảnh đó để cho chúng em hiểu được giá trị cội nguồn của dân tộc mình. Em cảm thấy rất vui và hạnh phúc khi được đi thăm mộ những anh hùng liệt sĩ của dân tộc.

Những giá trị cội nguồn của dân tộc làm cho em cảm thấy rất tự hào về những giá trị của dân tộc Việt Nam, truyền thống đó mang lại cho chúng ta sự tự hào về những truyền thống đã qua. Mỗi người chúng ta cần phải có ý thức để bảo vệ truyền thống giá trị của dân tộc Việt Nam.

lá

Mẫu số 4: Kể về chuyến đi thăm gia đình thương binh Lê Văn Trí

Chiều thứ năm tuần trước, sau giờ học buổi sáng, chúng em đến thăm gia đình thương binh hỏng mắt Lê Văn Trí tại nhà riêng. Cuộc viếng thăm làm em nhớ mãi.

Để thiết thực chào mừng ngày 30-4 giải phóng miền Nam, hưởng ứng chủ trương của Ban giám hiệu, lớp em phân công nhau đi thâm một số gia đình thương binh, liệt sĩ. Theo sự phân công của lớp, chúng em sẽ đến thăm gia đình chú Trí, một thương binh bị hỏng cả hai mắt, lại còn liệt nửa người. Chú có hai người con thì một đứa bị di chứng chất độc màu da cam, trở nên ngớ ngẩn, đứa con thứ hai học lớp 5. Chúng em bàn nhau nhịn quà sáng, góp tiền mua một món quà nhỏ mang đến biếu gia đình. Bọn em có 15 bạn, mọi việc do bạn Hương lo liệu.

Chiều hôm ấy chúng em tập hợp tại nhà Hương rồi cùng đến nhà chú Trí. Như đã hẹn trước, thím Trí đón chúng em vào, giới thiệu với chú Trí, một thương binh cao lớn, da xanh, đeo kính đen, ngồi trên chiếc xe đẩy. Khi chúng em chào, chú Trí khẽ nói: “Chào các cháu”. Trong khi thím Trí lấy nước uống mời khách, chúng em nhìn quanh, thấy chú thím ở trong ngôi nhà cũ đã xuống cấp. Chính quyền địa phương đang có kế hoạch giúp đỡ chú. Thím cho biết em thứ hai đang đi học, em đầu ngớ ngẩn, ai hỏi chỉ cười. Bạn Hương thay mặt nhóm biếu gia đình món quà nhỏ, gồm chiếc áo cho thím, đường, sữa cho chú và ít giấy cho đứa em đang đi học. Thím cảm ơn chúng em và cho biết địa phương cũng quan tâm nhiều nhưng bệnh tình chú và đứa em nặng quá, thím không thể làm thêm gì để cải thiện.

Khi chúng em hỏi về cuộc chiến đấu của chú ở chiến trường, chú không muốn nói nhiều. Chú cho biết chú phục vụ ỗ một binh trạm trên Trường Sơn, bị máy bay B.52 ném bom và bị thương nặng. Chú điều trị mãi đến những năm 80 mới được thế này. Chú cho biết phần lớn đồng đội chú đã hi sinh trong khi làm nhiệm vụ. Khi chúng em tỏ ý biết ơn và thương cảm, thì chú nói: “Nước có giặc thì mình phải đánh, chứ biết sao? Cá nhân mình không may thì ráng chịu. Mong sao từ đây thanh bình”. Những ý nghĩ đó, chắc chú đã nghiền ngẫm trong hơn hai chục năm trời sống trong bóng tối, nó biểu thị một ý thức tự giác và nghị lực kiên cường của anh bộ đội Cụ Hồ.

Chúng em tỏ ỷ muốn làm một việc gì, dù rất nhỏ để đỡ đần cho chú, thím. Thím từ chối không được cuối cùng hướng dẫn chúng em làm vệ sinh sân, vườn và ngõ. Chúng em lấy cuốc, chổi xẻng cùng nhau dọn dẹp. Trong vòng nửa giờ, tròng sân ngõ sạch sẽ, mảnh vườn nhỏ tinh tươm.

Từ biệt gia đình chú Trí ra về, chúng em nghĩ, sau chiến tranh, nước mình có biết bao thương binh và gia đình liệt sĩ. Đây chỉ là một gia đình trong số đó. Sự hi sinh của nhân dân và quân đội thật lớn lao biết bao! Cuộc viếng thăm của chúng em chỉ là một cử chỉ biết ơn rất nhỏ. Em nghĩ, mọi người trong đó có chúng em, còn phải cố gắng nhiều để góp phần xoa dịu những vết thương chiến tranh của đất nước không thể chữa lành.

Lá

Mẫu số 5: Kể về chuyến đi thăm gia đình có tới hai liệt sĩ

Nhân dịp kỉ niệm hai mươi năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, lớp chúng tôi tổ chức đi thăm một số gia đình thương binh liệt sĩ.

Nhóm chúng tôi – Đào, Mai, Hồng – đến thăm mẹ Lập, người mẹ của hai liệt sĩ: Liệt sĩ Nguyễn Văn Trường hi sinh trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Liệt sĩ Nguyễn Văn Sơn hi sinh trong cuộc kháng chiến chống Mĩ.

Đào mang đến một bó hoa. Mai đem một gói cam, còn tôi thì đem một túi khoai lang vừa dỡ chiều qua; đều là những thứ cây nhà lá vườn cả. Mẹ Lập và các gia đình chúng tôi đều là chỗ thân tình. Ngoài tình làng nghĩa xóm thì hình như có bà con xa đằng nội đằng ngoại gì đó. Chúng tôi có nghe loáng thoáng người lớn nói như vậy.

– Chào ba cô bé, ai ngủ giúp cho mà dậy sớm vậy?

Mẹ Lập vừa chào chúng tôi vừa vẩy chậu nước rửa mặt thừa vào đám hoa vạn thọ, hoa mào gà trồng trước sân.

Đồng hồ nhà ai bên cạnh thong thả buông sáu tiếng.

Chúng tôi chào lại và cùng cười thú vị vì lời chào dí dỏm của mẹ Lập: ‘… ai ngủ giúp cho… ‘, số là thế này: có lần, cái Đào đã ngủ quên ở nhà mẹ Lập. Hôm ấy, Đào được phân công giữ nhà để mẹ Lập lên huyện dự buổi tuyên dương bà mẹ Việt Nam anh hùng. Nó khép cửa lại rồi ngồi ngủ quên ở bàn. Mẹ Lập về, đặt nó lên giường, cứ thế nó ngủ đến sáng, chẳng hay biết trời đất gì ráo. Chúng tôi đặt điều trêu chọc nó, làm nó phát khùng lên mới thôi.

Chúng tôi nhanh nhẹn giúp mẹ dọn dẹp nhà cửa để lát nữa đón phái đoàn Mặt trận Tổ quốc tỉnh đến thăm.

Đào lau chùi bàn thờ, đánh sáng các đồ đồng như đỉnh đốt trầm, chân đèn và cắm hoa tươi vào lọ. Trên bàn thờ, ảnh hai liệt sĩ nhìn nó như phấn khích, như tru tư.

Mai lau bàn ghế, rửa cốc tách uống nước, quét nhà, quét sân. Trông dáng nó lầm lũi, siêng năng nhưmột cô dâu thứ thiệt.

Còn tôi đi nhóm bếp luộc khoai.

Mẹ Lập rửa mấy lá trầu, bửa cau và quan sát chúng tôi làm việc. Trong mắt mẹ, nỗi buồn xưa đã tĩnh lặng như mặt hồ nhưng không phải không ánh lên một chút buồn.

Mặt trời lên chừng một con sào thì mọi việc tươm tất, nhà cửa quang đãng, đồ đạc gọn gàng. Ngày thường, mẹ đã ngăn nắp, hôm nay càng ngăn nắp hơn.

Mẹ Lập mở hòm lấy ra lá cờ đỏ sao vàng. Chúng tôi treo nó trước cửa. Ngày mai là ngày 30 tháng 4 bất diệt!

Chúng tôi mang khoai chín, cam đặt lên bàn thờ và thắp hương.

Mẹ Lập khấn vái lầm rầm điều gì đó, mắt hơi trơn trớt rồi ra bộ phản ngồi nhai trầu.

Chúng tôi cố giữ yên lặng cho mẹ khỏi đứt dòng hồi tưởng về người chồng đã quá cố và hai người con đã hi sinh vì Tổ quốc.

Chúng tôi ra vườn vun nốt mây vồng khoai cho mẹ, dọn một đống rác, chọc mây quả ổi, chuyện trò một lát rồi quay vào nhà. Hương tàn, mẹ mang khoai luộc xuống. Mây bà cháu ngồi ăn khoai, uống nước chè tươi. Chúng tôi chuyện trò về bộ phim đang chiếu trên ti vi, cố không đả động đến chuyện mất mát lớn lao của mẹ, nhưng thực ra trong dạ ai cũng có một dòng chảy tâm tưởng hướng về những người đã khuất.

Rời nhà mẹ Lập, lòng chúng tôi cứ bùi ngùi khôn nguôi. Chúng tôi thống nhất với nhau: còn ở nhà ngày nào thì còn năng đi lại cho mẹ đỡ đơn côi trong tuổi già. Tuổi già vốn đã nặng nhọc, ở hoàn cảnh mẹ Lập càng nặng nhọc hơn.

Nhân dân ta không bao giờ quên ơn những người đã hi sinh vì đất nước!

Chúng ta không được bỏ quên những người thân còn lại của họ.

Uống nước nhớ nguồn là đạo lí, chúng tôi khắc tâm như vậy!

Tham khảo thêm: Lập dàn ý kể về một cuộc thăm hỏi gia đình neo đơn